Hướng dẫn góp vốn vào doanh nghiệp bằng nhãn hiệu

Góp vốn vào doanh nghiệp bằng nhãn hiệu. Hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp hiện nay đang chịu tác động rất nhiều từ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là nhãn hiệu hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa được coi là một tài sản vô hình nhưng mang giá trị vô cùng mạnh mẽ trong sự phát triển của doanh nghiệp. Do đó việc góp vốn bằng nhãn hiệu vào doanh nghiệp cần đặc biệt coi trọng. Vậy việc góp vốn bằng loại tài sản đặc biệt này được tiến hành như thế nào ?

Khái niệm nhãn hiệu

Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về khái niệm nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.”

Như vậy một nhãn hiệu hóa là một tên gọi có tính phân biệt, một biểu tượng hoặc một dấu hiệu nhận dạng được nguồn gốc của sản phẩm hoặc dịch vụ

Có được góp vốn vào doanh nghiệp bằng nhãn hiệu hay không ?

Pháp luật đã có cơ chế cho phép việc góp vốn bằng nhãn hiệu theo quy định tại Khoản 2 Điều 35 Luật doanh nghiệp 2014 như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn”.

Như vậy có thể thấy rằng điều kiện để được góp vốn bằng nhãn hiệu là thành viên góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với nhãn hiệu đó.

Ngoài ra theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 của Luật Doanh nghiệp còn quy định về hình thức góp vốn đối với loại tài sản này, cụ thể:

“1. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.”

Nhãn hiệu là một loại tài sản vô hình, không thể cầm nắm hay nhìn thấy được. Cho nên trước khi tiến hành thủ tục góp vốn cần phải tiến hành định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam. Tuy nhiên việc định giá nhãn hiệu chưa có quy định cụ thể để xác định giá trị của thương hiệu. Thông thường việc góp vốn sẽ được thực hiện sau khi đã định giá thương hiệu dựa trên thỏa thuận của hai bên hoặc dựa trên bảng định giá của bên thứ các cá nhân, tổ chức định giá.

Quy trình góp vốn vào doanh nghiệp thông qua nhãn hiệu

Bước 1: Định giá nhãn hiệu

Như đã phân tích phía trên, sở hữu trí tuệ là sản phẩm của lao động trí óc, nhưng để viết giá trị hoặc để bán tài sản trí tuệ cần thực hiện thủ tục định giá. Trên thị trường cũng như quan hệ của doanh nghiệp, việc định giá là một động lực để phát triển. Doanh nghiệp càng phát triển thì giá trị thương hiệu sẽ càng tăng. Hiện tại thì có 3 phương pháp định giá thường được các doanh nghiệp lựa chọn sử dụng, bao gồm: Dựa vào thị trường, dựa vào thu nhập và dựa vào chi phí.

Thứ nhất, phương pháp dựa vào chi phí: Phương pháp này được dựa trên nguyên tắc thay thế, đó là giá trị tài sản được ước tính trên cơ sở chi phí để xây dựng một tài sản tương tự với giá cả hiện hành. Tuy nhiên đối với phương pháp này giá trị của một nhãn hiệu không phải là giá trị thực bởi nó không tính đến những lợi ích kinh tế chưa đạt được cũng như thời gian mà các lợi ích này tiếp tục phát huy. Hơn nữa phương pháp này cũng không xem xét đến rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Do vậy với phương pháp này không được ưa chuộng sử dụng.

Thứ hai, phương pháp dựa vào thu nhập: Khác với phương pháp dựa vào chi phí, phương pháp này lại đặc biệt chú trọng đến các lợi ích kinh tế và “phân luồng tiền chiết khấu”. Theo đó giá trị của một nhãn hiệu sẽ được đánh giá dựa trên thu nhập dự kiến từ tài sản vô hình trong thời gian khai thác, bao gồm các yếu tố chính như: Lợi ích kinh tế, vốn hoặc tỷ lệ chiết khấu; vòng đời kinh tế. Hạn chế của phương pháp này là rất khó ước tính được nguồn thu nhập nhờ vào những tài sản vô hình, tuổi thọ kinh tế của chúng cũng như tỷ lệ chiết khấu và chi phí vốn thích hợp.

Thứ ba, phương pháp dựa vào thị trường: Theo phương pháp này, tài sản trí tuệ có thể được xác định bằng việc xem xét giá cả thị trường đối với tài sản tương tự như một phần của các giao dịch của một bên thứ ba. Cách định giá theo phương pháp này bao gồm:

  • Vốn hóa trên thị trường: Cách này dùng cho các công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán (đã lên sàn chứng khoán) có thể định giá thương hiệu thông qua giá trị cổ phiếu. Do đó phương pháp này sẽ không được định giá một cách riêng lẻ và giá trị một công ty sẽ dao động theo giá trị của cổ phiếu.
  • Định giá theo cách so sánh hoặc giao dịch trên thị trường: Phương pháp này cho cách định giá bằng sự so sánh với giá của một tài sản tương tự đã được trao đổi giữa bên mua và bên bán. Nhưng với tài sản trí tuệ, việc thực hiện phương pháp này thường khó khăn vì thông tin về giao dịch của bên thứ ba đối với một tài sản trí tuệ là rất ít. Do vậy việc định giá bằng phương pháp này là chưa thực sự phù hợp.

Những phương pháp nêu trên đã tạo ra một bộ công cụ cho những người định giá tài sản trí tuệ nói chung và định giá nhãn hiệu nói riêng. Mỗi công cụ sẽ có những điểm tích cực và hạn chế. Tuy nhiên phương pháp thứ hai là phương pháp được ưa chuộng sử dụng nhất.

Bước 2: Chuyển giao quyền tài sản

Sau khi đã xác định được giá trị của nhãn hiệu thì bước tiếp theo để góp vốn là phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu hoặc chuyển quyền sử dụng (li-xăng) nhãn hiệu. Theo đó sẽ có 2 phương pháp chuyển quyền tài sản để chủ sở hữu có thể lựa chọn:

Thứ nhất, chuyển quyền sở hữu: Cách thức này được hiểu là chủ sở hữu sẽ chuyển toàn bộ quyền tài sản của mình đối với nhãn hiệu đang sở hữu cho công ty. Việc chuyển nhượng này sẽ bắt buộc phải nộp hồ sơ và làm thủ tục để được ghi nhận tại Cục sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên khi chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu cần lưu ý các điều kiện sau:

  • Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chỉ được chuyển nhượng quyền của mình trong phạm vi được bảo hộ;
  • Việc chuyển nhượng quyền này không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ;
  • Quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó.   

Thứ hai, chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: Việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình. Đây chỉ là việc “cho phép” sử dụng nhãn hiệu chứ không phải “bán đứt” nhãn hiệu như việc chuyển nhượng nhãn hiệu. Theo quy định hiện tại thì việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đã không bắt buộc phải đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ. Do đó các bên sẽ tự thỏa thuận với nhau thông qua hợp đồng chuyển quyền sử dụng.

Bước 3: Soạn thảo hồ sơ góp vốn

Chủ thể góp vốn vào doanh nghiệp sẽ được chia làm hai đối tượng:

Thứ nhất: Cá nhân, tổ chức kinh doanh, khi đó chủ thể góp vốn cần chuẩn bị các hồ sơ sau:

  • Chứng từ định giá tài sản hoặc biên bản định giá tài sản của bên góp vốn và bên nhận góp vốn;
  • Biên bản góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ hoặc thương hiệu;
  • Các chứng từ chứng minh quyền sở hữu đối với nhãn hiệu (Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu,…);
  • Hợp đồng liên kết, liên doanh của hai bên.

Thứ hai: Đối với các cá nhân, tổ chức không kinh doanh thì cần chuẩn bị các tài liệu sau:

  • Chứng từ chứng minh quyền sở hữu đối vơi thương hiệu hoặc quyền sở hữu trí tuệ;
  • Biên bản góp vốn hoặc biên bản giao nhận tài sản nếu công ty nhận góp vốn là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần;
  • Văn bản định giá tài sản hoặc văn bản thỏa thuận của hai bên.
Do-khanh-linh-anslaw
Đỗ Khánh Linh

Bà Đỗ Khánh Linh là một trong những đội ngũ chuyên viên tư vấn của Công ty TNHH tư vấn A&S. Bà Linh đã có kinh nghiệm nhiều năm trong các lĩnh vực: Sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp, mã số mã vạch và giấy phép con. Bà Linh đồng thời là đồng tác giả của cuốn sách Pháp lý sở hữu trí tuệ dành cho nhà thiết kế đồ hoạ.