Hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Khi nhãn hiệu càng được quan tâm thì vấn đề tranh chấp nhãn hiệu sẽ càng diễn biến phức tạp và việc hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (văn bằng bảo hộ) là một trong những quy định mà chúng ta cần làm rõ để việc thực thi được thống nhất và hiệu quả.

Huy Bo Hieu Luc Giay Chung Nhan Dang Ky Nhan Hieu
HUỶ BỎ HIỆU LỰC GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU

Khái niệm về hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Theo từ điển Luật học, “Hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền không công nhận hiệu lực pháp lý của văn bằng đã được bảo hộ. Văn bằng bảo hộ cho mỗi đối tượng quyền sở hữu công nghiệp có thời hạn trong một khoảng thời gian nhất định. Trong suốt thời hạn có hiệu lực của văn bằng bảo hộ, nếu có tổ chức hoặc cá nhân khiếu nại về văn bằng bảo hộ thì Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ có thể xem xét và hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu nếu văn bằng bảo hộ đã cấp cho người không có quyền nộp đơn hoặc đối tượng không đáp ứng các điều kiện của pháp luật. Văn bằng bảo hộ đã bị hủy bỏ sẽ không có giá trị pháp lý kể từ thời điểm cấp văn bằng đó”. Định nghĩa này đúng nhưng chưa đầy đủ bởi lẽ thời hạn hủy bỏ hiệu lực đăng ký nhãn hiệu chỉ là 5 năm tính từ thời điểm cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (trừ trường hợp người nộp đơn không trung thực).

Pháp luật về sở hữu trí tuệ thì chưa hề đề cập đến khái niệm nay mà thay vào đó là nêu ra các trường hợp được phép hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Do đó các nhà làm luật cần phải bổ sung quy định để giải thích thống nhất cách hiểu về khái niệm hủy bỏ hiệu lực của nhãn hiệu.

Cơ sở hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Theo quy định tại Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ thì việc hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cần dựa trên các cơ sở sau đây:

Huỷ bỏ hiệu lực do không có quyền đăng ký

Hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với nhãn hiệu.

Quy định này được hiểu là người nộp đơn đăng ký ngay tại thời điểm nộp đơn đã không có quyền đăng ký nhãn hiệu thì văn bằng bảo hộ sẽ bị hủy bỏ hiệu lực.

Quyền đăng ký nhãn hiệu là khả năng pháp luật cho phép cá nhân, tổ chức được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu mà mình sáng tạo ra nhằm sử dụng trong hoạt động thương mại của mình. Đối với cơ sở này, hoạt động tranh chấp phổ biến diễn ra có thể kể đến tranh chấp giữa nhà phân phối và các chủ thể kinh doanh.

Trường hợp này xảy ra là các nhà phân phối sản phẩm đã biết đến và vẫn tiến hành đăng ký nhãn hiệu của chủ sở hữu tại một/một số quốc gia mà chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu. Khi đó bên yêu cầu (chủ sở hữu, đại diện của chủ sở hữu,..) phải đưa ra các cơ sở chứng minh hành vi đăng ký đó là “Không trung thực”.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể thế nào là “không trung thực” gây khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp. Cụ thể có thể kể đến vụ việc sau đây:

Vụ án: “Tranh chấp quyền Sở hữu trí tuệ và yêu cầu hủy Quyết định cá biệt” mà Tòa án Nhân dân thành phố HCM xử ngày 03/5/2018 liên quan đến hai nội dung chính, đó là cáo buộc về sự không trung thực của phía Bị đơn khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “Aardwolf” và quá trình xác lập quyền đối với nhãn hiệu đó do Cục SHTT thực hiện.

Nguyên đơn: Công ty Kỹ nghệ Sói

Bị đơn: ông Nguyễn Nhơn Hòa, là chủ sở hữu công ty STC.

Nội dung vụ án: Hai bên đã từng có quan hệ kinh doanh, cụ thể phía Nguyên đơn là ông James Corbett, là chủ sở hữu và đại diện pháp lý của công ty Herdgraph Pty, Ltd., pháp nhân đã chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu cho Công ty Kỹ Nghê Sói, Bị đơn đã từng hợp tác với nhau khi cùng làm chủ Công ty ABACO tại Úc. Sau khi hai bên chấm dứt hợp tác, ông James rút vốn khỏi Công ty ABCO và trở thành đối thủ cạnh tranh với ông Hòa, sau đó ông James đã đăng ký tên kinh doanh “AARDWOLF” tại Úc ngày 28/01/2003.  Nhận thấy ý định của Nguyên đơn nên phía Bị đơn đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “Aardwolf” trước tại Việt Nam dẫn đến việc đơn đăng ký nhãn hiệu “Aardwolf” của phía Nguyên đơn bị từ chối vì nộp đơn sau.

Kết luận của Tòa án: Trong vụ này Tòa chủ yếu đánh giá sự phù hợp của các chứng cứ để xem xét lập luận của Nguyên đơn và có thể nhận thấy chưa thực sự đi sâu vào bản chất của vụ tranh chấp với dấu hiệu không trung thực. Do các chứng cứ của Nguyên đơn không mạnh, dựa trên suy diễn nên bị bác bỏ khá dễ dàng. Vụ tranh chấp có thể  sẽ phức tạp hơn, gây khó khăn hơn cho Tòa trong việc xét xử nếu xuất hiện thêm tình tiết trung gian nào đó, ví dụ tên kinh doanh “Aardwolf” của phía Nguyên đơn đã được công bố rộng rãi ở Úc trước ngày Bị đơn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “Aardwolf” ở Việt Nam. Chính sự thiếu vắng định nghĩa hoặc giải thích cụ thể về hành vi “không trung thực” trong các văn bản pháp luật nên các cơ quan có thẩm quyền dễ bị ảnh hưởng bởi suy diễn chủ quan của các bên liên quan. Qua đó cho thấy sự cần thiết phải có một quy định rõ ràng về hành vi không trung thực trong xác lập quyền đối với nhãn hiệu, từ khái niệm, chứng cứ, đến các hệ quả pháp lý của hành vi này.

Huỷ bỏ do đối tượng không đáp ứng yêu cầu bảo hộ

Hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ.

Căn cứ theo định nghĩa của nhãn hiệu thì trường hợp nhãn hiệu không được cấp văn bằng bảo hộ sẽ gồm các trường hợp sau đây:

Thứ nhất: Nhãn hiệu không phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ viết, hình ảnh. Đây là trường hợp rất dễ nhận biết nhãn hiệu là dấu hiệu không nhìn thấy được bởi lẽ chỉ cần không cảm nhận được về mặt thị giác thì sẽ thuộc trường hợp không nhìn thấy được.

Mục đích của quy định này là các nhà làm luật cho rằng khi một dấu hiệu không nhìn thấy được thì người tiêu dùng không thể lựa chọn hang hóa, dịch vụ thông qa việc ngắm nhìn nên sẽ không tạo được sự phân biệt.

Tuy nhiên nếu như vậy thì sẽ bị giới hạn về mặt nhãn hiệu và cần phải thay đổi.

Ví dụ như một dấu hiệu về mùi vị như mùi đặc trưng của gà rán KFC chắc chắn người tiêu dùng cũng sẽ nhận thấy được sự khác biệt với gà rán thông thường, hay có thể nói đến đoạn âm thanh nhạc chuông của Nokia cũng là đặc trưng và dấu ấn riêng của hãng. Do đó quy định này cần được sửa đổi để phù hợp với thực tế cũng như đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng.

Thứ hai: Không có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.

Có thể thấy rằng đây là trường hợp khá phổ biến để làm cơ sở hủy hiệu lực của nhãn hiệu đối chứng. Để nhãn hiệu đủ điều kiện bảo hộ thì điều kiện phân biệt được với sản phẩm/dịch vụ của chủ thể khác là điều kiện bắt buộc.

Do đó khi nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện này thì đương nhiên một trong hai nhãn hiệu sẽ phải chấm dứt hiệu lực để tránh gây nhầm lẫn.

Đánh giá dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt

Dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nêu trên khi dấu hiệu đó trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đối chứng. Để xác định hai nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhau cần xác định dựa trên hai yếu tố: (1) So sánh về mặt dấu hiệu, (2) so sánh về mặt sản phẩm/dịch vụ của nhãn hiệu đó.

So sánh về mặt dấu hiệu

Khi so sánh dựa trên dấu hiệu thì căn cứ theo điểm 39.8 thông tư 01/2007/TT-BKHCN thì để đánh giá nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhau sẽ phải dựa trên các yếu tố: cấu trúc, nội dung, cách phát âm (đối với nhãn hiệu chữ), ý nghĩa, hình thức thể hiện, tờ đó đánh giá tác động của nhãn hiệu đó tới nhận thức của người tiêu dùng có gây nhầm lẫn hay không.

So sánh về mặt sản phẩm/dịch vụ

Để đánh giá dấu hiệu này sẽ dựa trên các tiêu chí bản chất, chức năng, mục đích sử dụng, phương thức thực hiện. Trên cơ sở đó sẽ đánh giá được các trường hợp trùng hay tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đối chứng.

Việc đánh giá nhãn hiệu trùng nhau là không khó, tuy nhiên để đánh giá nhãn hiệu “tương tự gây nhầm lẫn” thì khá là phức tạp và gây nhiều tranh cãi.

Nếu chỉ dựa vào các quy định nêu trên thì chưa thực sự rõ ràng và đầy đủ, ví dụ như cấu trúc tương tự với nhau bao nhiêu ký tự thì bị coi là tương tự gây nhầm lẫn, hay nhãn hiệu trùng hoặc tương tự của hai công ty có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ (công ty mẹ – con) thì có cùng được cấp hay không khi người tiêu dùng đều biết là hai công ty này là cùng một hệ thống.

Chính vì quy định còn chưa rõ ràng nên rất nhiều nhãn hiệu bị hủy hiệu lực, đôi khi còn bị khiếu nại nhiều lần do quan điểm không thống nhất. Do đó các nhà làm luật cần xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ hơn nữa để việc áp dụng pháp luật được dễ dàng và thống nhất.

Do-khanh-linh-anslaw
Đỗ Khánh Linh

Bà Đỗ Khánh Linh là một trong những đội ngũ chuyên viên tư vấn của Công ty TNHH tư vấn A&S. Bà Linh đã có kinh nghiệm nhiều năm trong các lĩnh vực: Sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp, mã số mã vạch và giấy phép con. Bà Linh đồng thời là đồng tác giả của cuốn sách Pháp lý sở hữu trí tuệ dành cho nhà thiết kế đồ hoạ.